Tạp chí công nghệ Việt Nam

Sử dụng cây bưởi và hoa gạo để phòng và chữa bệnh`

0

1. Cây bưởi

a. Thành phần và tác dụng

Bưỏi là loại cây ăn quả quen thuộc ở nước ta, quả ngon và bổ; nước ép từ múi bưởi được dùng làm thuốc chữa tiêu khát (tiểu đường), thiếu vitamin c. Đáng chú ý là tất cả các bộ phận của cây bưỏi đều được dùng làm thuốc.

Trong vỏ bưỏi chứa nhiều tinh dầu, dịch quả chín có nhiều chất bổ dưỡng như: nước 89%, gluxit 9%, protit 0,6%, lipit 0,1% và các khoáng chất: canxi, phot pho, kali, magie, lưu huỳnh, natri, clo, sắt, đồng, mangan. Đặc biệt rất giàu vitamin c, B, Pp.

b. Bài thuốc phối hợp

– Viêm loét dạ dày tá tràng: hạt bưởi để cả vỏ cứng lOOg rửa sạch, cho vào một cốc thuỷ tinh to, rót vào 200ml nước sôi, đậy kín, ủ nóng trong 2 – 3 giờ; hạt bưỏi sẽ tiết ra một chất nhầy làm cho cốc nưóc đặc sánh như nưốc cháo, gạn bỏ hết hạt, lấy nưốc uống sau bữa ăn khoảng 2 giờ; mỗi ngày uống 1 lần, liên tục nhiều ngày.

– Chữa ho nhiều: Tép bưởi lOOg, rượu 15ml, mật ong 30ml, chưng cách thuỷ cho chúi nhừ, mỗi ngày ăn 1 lần; hoặc tép bưỏi cho vào bình, ngâm rượu, đậy kín một đêm, nấu nhừ, dùng mật ong trộn đều, ngậm nuốt thường xuyên.

– Đau khổp hay sưng đau do ngã: vỏ quả bưởi tươi 250g, gừng tươi 30g cùng băm nhuyễn, đắp vào chỗ đau, mỗi ngày thay 1 lần.

– Chữa trĩ: Đào rễ bưỏi rửa sạch, xắt nhỏ, sắc uống 20g/ngày.

– Đau đầu: Dùng 2 lá bưỏi, 2 củ hành, giã nát đắp vào 2 bên thái dương, dùng băng dính cố định lại.

– Đau vai, lưng, gáy do phong hàn: vỏ quả bưởi 1 nắm, ngải cứu 1 nắm, sao thơm, sắc với 2 bát nước còn khoảng 1 bát uống.

– An không tiêu: vỏ quả bưởi 4 – 12g/ ngày sắc uống.

– Đầy bụng do lạnh: Lá bưởi non luộc chín hay nướng chín đắp vào rốn khi còn ấm nóng (chú ý tránh bỏng vùng rốn).

– Sa đì, bìu đau tức: 1 quả bưởi non mới hình thành hạt, gọt vỏ, sao vàng hạ thổ, nấu nước uống, dùng vài ngày.

Lưu ý: Nước ép quả bưỏi khi dùng chung với một sô’ loại thuốc Tây y có thể không tốt cho sức khoẻ (tốt nhất không dùng chung 2 thứ). Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng, không nên đánh răng ngay sau khi ăn bưỏi.

Xem thêm thiết kế logo thương hiệu cá nhân

2. Cây hoa gạo

a. Thành phần và tác dụng

Cây hoa gạo còn được gọi là mộc miên, cổ bối, ban chi hoa, anh hùng thụ. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, nưốc sắc hoa gạo có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ mạnh.

Vỏ thân cây hoa gạo chứa nhiều chất nhầy, hoa chứa 85,66% nước, 1,38% protein, 11,95% đường, 1,09% chất khoáng, hạt chứa 25% tinh dầu. Nưóc sắc hoa gạo cớ tác dụng ức chê trực khuẩn mạnh.

Theo Đông y, vỏ cây gạo vị cay, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, hoạt huyết, tiêu thũng, thưòng được dùng để chữa các chứng bệnh như viêm loét dạ dày, đại tiện lỏng, kiết lỵ, đau khốp cổ chân và khốp gối, viêm loét ngoài da, chấn thương do trật đả…

Hoa gạo vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ huyết, thường dùng để trị đại tiện lỏng, kiết lỵ, băng huyết, viêm loét, nhọt độc, xuất huyết do chấn thương…

Rễ gạo vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, se vết thương, thường được dùng để chữa viêm loét dạ dày, kiết lỵ phân có máu, lao hạch, sưng vú sau khi sinh con, tổn thương do trật đả.

b. Bài thuốc phối hợp

– Viêm phế quản cấp tính: Rễ gạo 30g sắc uống.

– Ho khạc nhiều dòm do phế nhiệt: Hoa gạo 15g, ngư tinh thảo (rau diếp cá) 15g, tang bạch bì (vỏ dâu) lOg, sắc uống.

– Nôn ra máu: Hoa gạo 14 bông, thịt lợn nạc lOOg. Hoa gạo rửa sạch, thái nhỏ; thịt lợn thái miếng. Hai thứ nấu canh ăn.

– Ho ra máu: Hoa gạo 14 bông sắc kỹ, chế thêm một chút đường phèri, chia uống vài lần trong ngày.

– Viêm loét dạ dày: Rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 15 – 30g, sắc uống. Hoặc: Rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 30g, rễ cây lưỡng diện châm 6g, sắc uống.

– Lỵ trực khuẩn, viêm ruột và dạ dày cấp tính, đại tiện lỏng, đại tiện ra máu: Hoa gạo 60g, sắc kỹ, chế thêm một chút mật ong hoặc đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Hoặc: Hoa gạo 15g, hoa kim ngân 15g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 15g, sắc uống. Hoặc: Hoa gạo 15 – 30g sắc kỹ, chia uống 3 lần trong ngày.

– Sưng đau vú sau khi sinh con: Hạt cây gạo lOg, sao vàng sắc uôhg.

– Trẻ em sốt cao vào mùa hè: Hoa gạo 6g, sắc kỹ,

chế thêm chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. .

– Viêm khớp mạn tính, đau lưng và đau gối mạn tính: Rễ gạo 30 – 60g, sắc hoặc ngâm rượu uống. Hoặc: Vỏ thân cây gạo 15g, sắc kỹ, bỏ bã, chế thêm một chút rượu vang, chia uông 2 lần trong ngày.

– Tiểu tiện không thông: Chất gôm cây gạo lOg, hoa kim ngân 20g, hạ khô thảo 20g, sắc vối 750ml nước, cô còn 300ml, chia uống 3 lần trong ngày.

– Sưng nề do chấn thương: vỏ thân hoặc rễ cây gạo ngâm rượu xoa ngoài hoặc giã nát đắp vào vị trí tổn thương. Hoặc: vỏ thân cây gạo lOOg, củ nghệ vàng già lOOg. Vỏ gạo cạo bỏ vỏ bẩn ỏ ngoài, băm nhỏ, giã nát với nghệ thái mỏng, dùng giấm và rượu cho vào sao rồi chườm hoặc đắp vào vết thương khi còn nóng.

– Ngứa vùng hậu môn: vỏ thân cây gạo sắc lấy nưóc ngâm rửa nơi bị bệnh.

– Trĩ xuất huyết: Hoa gạo 20g, quyển bá lOg, hoa hoè 15g, sắc uống.

– Bong gân: vỏ cây gạo 16g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt 16g (sao vàng), sắc vối 750ml nưóc, cô còn 250ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Rau má tươi, vỏ thân cây gạo tươi, vòi voi tươi và bồ công anh tươi, bốn thứ lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát, bó vào nơi bị bệnh.

– Gãy xương: Sau khi nắn chỉnh ổ gãy, dùng vỏ rễ cây gạo tươi rửa sạch, giã nát, bó vào vị trí gãy xương, 2 ngày thay 1 lần.

Leave A Reply

Your email address will not be published.