Tạp chí công nghệ Việt Nam

Những bài thuốc chữa bệnh từ hoa đinh hương và kim ngân

0

1. Hoa đinh hương

a. Thành phần và tác dụng

Hoa đinh hương còn có tên khác là đinh tử hương, kệ tử hương. Hoa màu đỏ tươi.

Hoa đinh hương thưòng được dùng chữa các chứng bệnh như nấc, nôn, tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng do lạnh, đau răng…

Nụ đinh hương có mùi thơm, màu hơi vàng nâu và rắn; loại màu đen và có mọt là kém hoặc đã để quá lâu.

Hoa đinh hương chứa nhiều tinh dầu vối hàm lượng 15 – 20% ở nụ hoa, 5 – 6% ở cuống hoa, còn lại là ỏ lá. Tinh dầu hoa đinh hương là chất lỏng nặng hơn nưốc, không màu hoặc có màu vàng, mùi vị đặc trưng. Ngoài ra hoa đinh hương còn chứa protein, lipit, carbohydrat nên có tác dụng chữa trị đối với một số loại bệnh.

Theo Đông y, đinh hương vị cay, tính ấm, vào bốn đường kinh phế, tỳ, vị và thận, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), noãn thận (làm ấm thận), kích thích tiêu hoá.

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy đinh hương có tác dụng dược lý khá phong phú làm ức chế sự phát triển của nhiều vi khuẩn (như trực khuẩn lỵ, thương hàn, phó thương hàn, bạch hầu, than, tụ cầu vàng), chông viêm loét đường tiêu hoá, kích thích tiết dịch mật và dạ dày nên thúc đẩy quá trình tiêu hoá, giảm đau, chống viêm…

b. Bài thuốc phối hợp

– Xuất tinh sốm: Đinh hương 20g, tế tân 20g đem ngâm với 100ml rượu 75%, sau nửa tháng thì dùng được. Khi dùng, lấy dịch thuốc xoa lên đầu dương vật, sau chừng vài phút có thể hành sự.

– Bệnh khốp: Đinh hương 20g, long não 12g, cồn 90° 250ml. Ngâm 7 ngày đêm, lọc bỏ bã. Khi dùng, lấy bông thấm thuốíc nắn bóp nơi đau nhức, mỗi ngày 2 lần.

– Hôi nách: Đinh hương 18g, hồng thăng đơn 27g, thạch cao 45g. Tất cả tán thành bột thật mịn, trộn đều, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày lấy một chút bột thuốic thoa đều vào nách, làm liên tục trong 5 ngày.

– Sưng đau chân răng: Đinh hương, xuyên tiêu lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, thêm ít băng phiến, trộn vối mật ong, bôi hàng ngày.

– Viêm loét miệng: Đinh hương 5g tán thành bột mịn, ngâm với nước sạch, sau 4 giờ thì dùng được, lấy tăm bông thấm dịch thuốc bôi vào vết loét.

– Viêm xoang, hơi thỏ hôi, hắt hơi, sổ mũi: Dùng đinh hương bọc vào bông, thỉnh thoảng nút vào mũi.

– Nứt đầu vú: Đinh hương 5g tán bột, đường đỏ 5g, hai thứ trộn đều, chế thêm 1 cốc rượu trắng; đem đun cho thật khô rồi lại tán mịn, hoà với dầu vừng, bôi lên vùng tổn thương.

– Viêm nhiễm đưòng hô hấp, đặc biệt là vùng mũi, xoang mặt: Tinh dầu đinh hương, tinh dầu bạch đàn, menthol, trần bì, hạt mùi, natri bicarbonat, axit citric trộn đều, làm thành viên to. Mỗi lần xông họng 2 – 3g. Có thể hoà vào nước, ngậm súc để cho tinh dầu bay lên.

– Nấc và nôn do hư hàn: Đinh hương, thị đế, nhân sâm, sinh khương mỗi vị 9g, sắc uôhg. Hoặc: Đưòng trắng 250g thêm một chút nước rồi đun nhỏ lửa cho tan hết, cho gừng tươi giã nát 30g, đinh hương 5g vào đun cho đến khi tạo thành dạng keo, sò tay không dính là được. Đổ ra khay có thoa dầu lạc, đợi nguội rồi cắt thành 50 miếng nhỏ, mỗi ngày ăn một vài miếng sau bũa cơm.

– Thổ tả: Đinh hương 2 nụ, rượu vàng 50ml, cho vào bát hấp cách thuỷ trong 10 phút, sau đó bỏ bã uôhg rượu.

– Liệt ruột cơ năng: Đinh hương 30 – 60g tán bột, trộn với rượu mạnh hoặc nước rồi đắp vào vùng rốn (đưòng kính chừng 6 – 8cm), dùng băng cố định. Hoặc:

Đinh hương, mộc hương, nhục quế, xạ hương tất cả tán bột, đắp vào rôn.

– Đại tiện lỏng: Đinh hương 30g, hạt mã đề sao 20g, tất bạt lOg, hồ- tiêu 5g, nhục quế 5g. Tất cả tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín, mỗi lần lấy lOOmg bột thuốc hoà nưốc đắp vào rốn, dùng băng cố định lại, 1 – 2 ngày thay thuốc một lần.
Hoặc: Đinh hương 5 – lOg, nhục quế 4 – 6g, mộc hương 5 – lOg, tất cả tán thành bột mịn, đắp vào rốn. Hoặc: Đinh hương 3g, sa nhân 6g, bạch truật 12g, tán bột, uống mỗi lần 2 – 4g, ngày 2 – 3 lần.

Xem thêm thiết kế logo sản phẩm

2. Hoa kim ngân

a. Thành phần và tác dụng

Hoa kim ngân (hay còn gọi kim ngân hoa), là cây leo bằng thân quấn, cành non có lớp lông bao phủ gồm lông đơn, ngắn, sau nhẵn, màu hơi đỏ có vân.

Cụm hoa mọc ở kẽ các lá tận cùng, cuống hoa có lông, dài 6 – 22mm, lá bắc giông các lá con hình mũi mác, có cuống dài 15 – 25mm; lá bắc con tròn, dài l,5mm, lông thưa ỏ mép; đài có 5 phiến hình mũi mác, mảnh, dài 1 – l,5mm, đôi khi không bằng nhau, có lông; tràng màu trắng sau chuyển thành màu vàng có lông mịn và lông tuyến ỏ ngoài, thơm, ống tràng dài 18 – 20mm, môi dài 15 – 18mm; 5 nhuỵ thò ra ngoài, đính ở họng tràng; chỉ nhuỵ nhẵn, bao phấn hình mũi mác đính lưng; bầu nhẵn. Quả hình cầu màu đen.

Nụ hoa hình gậy, hơi cong, dài 2 – 5cm, đường kính đạt tới 5mm. Mặt ngoài màu vàng tói vàng nâu, phủ đầy lông ngắn. Mùi thơm nhẹ, vị đắng. Hoa kim ngân dễ hút ẩm, dễ mốc biến màu, mất hương vị, nên phải để nơi khô ráo, tránh ẩm.
Theo Đông y: Hoa kim ngân có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, không độc, vào 4 kinh tâm, phế, vị và tỳ, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn.

Hoa mới nở có màu trắng, sau ngả sang màu vàng trang nhã. Hoa kim ngân là vị thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa do dị ứng, viêm mũi do dị ứng, thấp khớp…

b. Bài thuốc phối hợp

– Chữa mẩn ngứa, dị ứng: Hoa kim ngân 20g, huyền sâm TOg, sinh địa 8g, thổ phục linh 6g, liên kiều lOg, hoàng đằng 8g, mạch môn 8g, quyết minh tử (sao) 6g. Cách dùng: cho 800ml nước sắc còn 200ml nưốc, uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần.

– Chữa mụn nhọt: Hoa kim ngân 6g, cam thảo 3g, nước 200ml, sắc còn 100ml chia 2 hay 3 lần uống trong ngày

– Chữa cảm sốt: Hoa kim ngân 40g, liên kiều 40g, kinh giối tuệ 16g, cát cánh 24g, đạm đậu xị 20g, bạc hà 24g, ngưu bàng tử 24g, trúc diệp 16g. Tất cả sấy khô tán bột. Có thể làm thành viên. Ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 12g.

– Chữa cảm cúm: Hoa kim ngân 4g, tía tô 3g, kinh giói 3g, cam thảo đất 3g, cúc tần hay sài hồ nam 3g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả dùng lá phơi khô, sắc uống.

– Chữa bép phì: Hoa kim ngân, hoa cúc, sơn tra mỗi vị lOg. Các vị thuốc đem hãm với nưốc sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm theo cao huyết áp và rối loạn lipit máu thuộc thể vị nhiệt, biểu hiện bằng các triệu chứng hoa mắt chóng mặt, nặng đầu, tay chân buồn mỏi, chóng đói, miệng khát, thích uống nưóc mát, chất lưõi đỏ, rêu lưỡi vàng dính.

– Chữa bệnh sởi: Hoa kim ngân 12g, ngưu bàng 8g; phù bình, đạm đậu xị, mỗi vị 12g; liên kiều, cát cánh, thăng ma mỗi vị 8g; xác ve sầu 4g.

Hoa kim ngân 30g, cỏ ban (cây nọc sỏi) 30g. Dùng tươi, giã nhỏ, cho 50ml nưốc đã chín, gạn lấy nước, đun cách thuỷ hoặc hấp cơm, ngày uống 2 lần.

Hoa kim ngân 16g, ké đầu ngựa 3g, sinh địa 8g, huyền sâm lOg, kinh giối 4g. Cho 600ml nước, sắc còn 100ml. Uổng ngày 1 thang, chia hai lần.

– Chữa sốt xuất huyết thể nhẹ (độ 1 và 2): cỏ nhọ nồi 20g, hoa kim ngân 12g, rễ cỏ tranh 20g (sao vàng) 8g, sài đất 20g, hạ khô thảo 12g, hoa hoè (sao vàng) lOg, gừng tươi 3 lát. Cách dùng: Cho 600ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm uống ngày 3 lần.

Leave A Reply

Your email address will not be published.