Tạp chí công nghệ Việt Nam

Một số bài thuốc chữa bệnh dân gian bằng các loại cây

0

1. Cỏ sữa

a. Thành phần và tác dụng

Cỏ sữa có 2 loại: lá nhỏ và lá to. cả hai đều được dân gian dùng làm thuốc chữa bệnh lỵ. Ngoài ra, cỏ sữa còn giúp chữa nhiều bệnh khác như trĩ, viêm loét, mụn nhọt, mẩn ngứa, ho hen…

cỏ sữa lá nhỏ thuộc họ thầu dầu, cây mọc lan trên mặt đất, thân cành có màu tím đỏ. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc thon dài, dài nhất khoảng 7mm, lá hơi khía tai bèo. Cụm hoa mọc ỏ kẽ lá. Quả nhỏ có đưòng kính l,5mm, nhẵn, dài 0,7mm, có 4 góc. Khi bấm, cây có nhựa trắng chảy ra. cỏ sữa mọc hoang ở nhiều nơi. Có thể thu hái trong mùa hè, rửa sạch, phơi khô dùng dần làm thuốc. Kinh nghiệm dân gian thưòng dùng cỏ sữa lá nhỏ để chữa lỵ. Theo Đông y, cỏ sữa có vị nhạt, hơi chua, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt.

Cỏ sữa lá to cùng họ vối cỏ sữa lá nhỏ, là cây sống hàng năm, thân mọc thẳng, có thể cao 30 – 40cm, màu đỏ nhạt, có phủ lông màu vàng nhạt. Lá màu xanh hoặc đỏ, hình mác, dài khoảng 2 – 3cm, rộng 5 – 15mm, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa nhỏ, màu trắng đỏ nhạt. Quả màu nâu nhạt. Cây thường mọc hoang.

Trong cỏ sữa chứa thành phần phenolic, enphosterol và các axit hữu cơ như gallic, palmitic, oleic nên được dùng làm thuốc chữa lỵ. Một sô” nước dùng cỏ sữa lá to chữa viêm loét giác mạc, đau mắt, ho hen…

b. Bài thuốc phối hợp

– Kiết lỵ: Cỏ sữa lá nhỏ 20 – 50g (người lớn có thể dùng 100 – 150g). Sắc uống ngày một thang, cỏ sữa lá nhỏ 30g, rau sam 30g, sắc uống ngày một thang, cỏ sữa lá to phối hợp vối hoàng đằng, nấu thành cao lỏng để uống.

– Lòi dom chảy máu: cỏ sữa lá nhỏ tươi 80 – lOOg, giã nát, vắt lấy nước cốt, uống. Có thể dùng cây khô sắc uông.

– Viêm loét, mụn nhọt ngoài da: cỏ sữa lá nhỏ lượng vừa đủ, giã nát đắp lên vùng bị tổMthương.

– Viêm da, mẩn ngứa: cỏ sữa lá nhỏ lượng vừa đủ, giã nát, xoa xát hay nấu nước tắm rửa.

– Chữa ho hen: cỏ sữa lá to lOg, lá cây bồng bồng 3 lá, lá dâu 20g. sắc uôhg ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

2. Hoàng bá

a. Thành phần và tác dụng

Hoàng bá còn gọi là hoàng nghiệt, xuyên hoàng bá, chân xuyên bá. Bộ phận dùng: vỏ cây. Theo Đông y hoàng bá tính đắng lạnh, không độc. Công dụng: thanh nhiệt, táo thấp, tả hoả giải độc. Chất cồn trong vỏ cây hoàng bá có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều vi khuẩm gram dương và gram âm, trong đó có trực khuẩn lao. Hợp chất lacton trong hoàng bá có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương và gây hạ đưòng huyết. Berberin có tác dụng tăng tiết mật và rất hữu ích trong điều trị các bệnh viêm túi mật với rối loạn đưòng dẫn mật, viêm túi mật do sỏi mật, viêm gan, có biến chứng ỏ ống mật.

Theo Lý Thời Trân: Hoàng bá tính lạnh mà trầm, dùng sống thì giáng thực hoả, dùng chín thì không hại vị. Theo Lãn Ông: hoàng bá có tác dụng làm tan thấp nhiệt ỏ hạ tiêu, tả long hoả phục ở âm, trừ nóng trong xương, bổ thận, mạnh âm, trị 5 tạng, tràng vị thấp nhiệt, hoàng đãng, trĩ, tiết tả, lỵ, tả tưóng hoả có thừa, cứu thận thuỷ không đủ, bàng quang nhiệt kết, con gái khí hư, âm môn lỏ loét; mũi đỏ, hầu tắc, ung nhọt sau lưng, má lưỡi lỏ sưng thì tẩm mật nưống, nghiền nhỏ mà đắp.

b. Bài thuốc phổi hợp

– Họng tự nhiên sưng đau ăn uống không được: dùng hoàng bá nghiền nhỏ hoà rượu đắp vào chỗ đau.
– Nôn ra máu: hoàng bá tẩm mật nướng khô, nghiền nhỏ, uống một lần 4g, vối nước sắc mạch môn đông. Chưa khỏi thì uống tiếp tăng lượng dần: 6g, hoặc 8g.

– Nhọt mọc ỏ lưng hoặc ỏ vú đỏ đau: dùng hoàng bá nghiền nhỏ hoà lòng trắng trứng gà đắp vào chỗ đau.

– Trẻ em bị nhiệt tả: hoàng bá bỏ vỏ thô, sấy nghiền nhỏ mỗi lần uống 4g vối nước cháo loãng, uống ấm.

– Có thai đại tiện ra màu trắng (bạch lỵ) đi nhiều lần: hoàng bá lOOg – 150g (dùng rễ) tẩm mật sao cháy đen nghiền bột viên như hạt ngô mỗi lần uống 30 – 50 viên vối nưóc cơm, lúc bụng đói, ngày 3 lần.

– Mộng tinh: hoàng bá sao 600g, cáp phấn bột 600g, luyện vối mật ong vo thành viên như hạt đậu xanh, mỗi lần uống 100 viện lúc đói vối rượu.

– Nhiệt tích sinh mộng di, tâm hoảng hốt, cách mô nóng: bột hoàng bá 40g, phiến não 4g, cho thêm mật ong luyện thành viên như hạt ngô mỗi lần uôhg 15 viên với nước sắc mạch môn.

– Ăn phải thịt nhiễm độc: uống 1 thìa canh bột hoàng bá, chưa khỏi uống tiếp.

– Cháy máu cam: hoàng bá 80g, ngâm nước lạnh 1 đêm, rồi giã hoàng bá lấy nưốc đun uống ấm.

– Hoả độc nhiễm vào người, mình, hai đùi và thân lở loét: dùng bột hoàng bá thấm vào chỗ lở loét.

– Mất tiếng, hầu họng tắc, khạc ra máu, táo bón: hoàng bá sao rượu 80g, tri mẫu tẩm rượu sao 80g, nhục quế 4g, nghiền nhỏ hoà nước sôi, viên như hạt ngô, mỗi lần uống 50 viên lúc đói với nước ấm.

– Thấp nhiệt, gối sưng, gân xương đau nhức: hoàng bá sao lOOg, thương truật sao bỏ vỏ lOOg, tán bột. Mỗi lần uốhg 1 thìa canh vối nước nấu gừng. Ngày uống 2 lần sáng tối.

Xem thêm thiết kế logo đồng phục lớp

3. Cây huyết dụ

a. Thành phần và tác dụng

Cây huyết dụ có hai loại: loại có lá đỏ cả hai mặt và loại có lá một mặt đỏ một mặt xanh. Cả hai loại đều dùng làm thuốc nhưng loại lá đỏ hai mặt tốt hơn. Cây thưòng được trồng làm cảnh, thân to bằng ngón tay, cao 1 – 2m. Toàn thân mang nhiều vết sẹo của các lá đã rụng, chỉ có lá ỏ ngọn. Lá không có cuông, hẹp, dài khoảng 30cm. Hoa mọc thành chuỳ dài. Quả mọng chứa 1 – 2 hạt.

Theo Đông y, huyết dụ có vị nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng cầm máu, bổ huyết, tiêu ứ, dùng chữa rong kinh, kiết lỵ, xích bạch đới, phong thấp nhức xương…

b. Bài thuốc phối hợp

– Chảy máu cam và chảy máu dưới da: Lá huyết dụ tươi 30g, lá trắc bá (sao cháy) và cỏ nhọ nồi mỗi vị 20g, sắc uống đến khi khỏi.

– Rong kinh: Lá huyết dụ 20g, rễ cỏ tranh lOg, đài tồn tại trên quả mướp lOg, rễ gừng 8g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nưốc còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

– Bị thương ứ máu hay phong thấp đau nhức: Dùng huyết dụ cả lá, hoa, rễ 30g, huyết giác 15g, sắc uống đến khi khỏi.

– Kiết lỵ ra máu: Lá huyết dụ 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g. Rửa sạch, giã nát, thêm nưốc, gạn uôhg. Dùng 2 – 3 ngày. Nếu bệnh không giảm thì nên đến cơ sỗ y tế khám xác định nguyên nhân để điều trị.

Lưu ý: Phụ nữ không nên dùng trước khi sinh con hoặc sau khi sinh xong mà bị sót nhau.

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of