Tạp chí công nghệ Việt Nam

Bài thuốc chữa bệnh từ hoa hòe và hoa mào gà

0

1. Hoa hoè

a. Thành phần và tác dụng

Y học đã chứng minh hoa hoè có tác dụng tăng sức bền thành mạch, cầm máu. Nó cũng giúp tăng cưòng sức co bóp cơ tim, hạ huyết áp, hạ mỡ máu và làm chậm quá trình xơ vữa động mạch.

Ngoài ra, hoa hoè còn có tác dụng kháng khuẩn, chông viêm, chông co thắt cơ trơn ỏ đưòng ruột và phế quản, gây hưng phấn nhẹ, lợi niệu, chông phóng xạ, bình suyễn và chống viêm loét.

Thành phần hoá học chính trong hoa hoè là chất rutin, đó là một loại vitamin p có tác dụng tăng cưòng sức chịu đựng của mao mạch, cơ thể thiếu chất này tính chịu đựng của mao mạch yếu, dễ đứt vỡ.

Theo Đông y, hoa hoè vị đắng, tính hơi lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, làm mát và cầm máu (lương huyết và chỉ huyết). Thưòng được dùng để chữa các chứng bệnh chảy máu như đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết…

Hoa hoè có thể kết hợp vói hạ khô thảo, xuyên khung, địa long, cúc hoa, câu đàng chữa cao huyết áp; kết hợp với trắc bá diệp, chỉ xác chữa dại tiện ra máu; kết hợp với bách thảo sương, mẫu lệ nung chữa bàng huyết, khí hư; kết hợp vdi hoa kim ngân chữa viêm loét, mụn nhọt…

b. Bài thuốc phối hợp

– Chữa cao huyết áp: Hoa hoè, tang ký sinh mỗi thứ 25g, hạ khô thảo, cúc hoa, thảo quyết minh mổi thứ 20g; xuyên khung, địa long mỗi thứ 15g, sắc uống.

Nêu’ mất ngủ, thêm toan táo nhân sao 15g, dạ giao đằng 2õg.

Đau ngực thêm đan sâm 20g, qua lâu nhân 25g. Có cơn đau thắt ngực thêm huyền hồ sách 12g, phật thủ 20g, bột tam thất 7,5g.

Di chứng tai biến mạch não thêm ngưu bàng tử 25g, câu đằng 30g.

Xơ vữa động mạch thêm trạch tả 20g. Hoa hoè, sung uý tử mỗi thứ 15g, cát căn 30g, sắc uống.

Nếu đau tức ngực thêm dảng sâm, hà thủ ô mỗi thứ 30g.

Hồi hộp, trống ngực và mất ngủ thì thêm toan táo nhân 15g.

Tê tay chân thêm sơn tra 30g, địa long lOg. Tiểu đêm nhiều ỉần thêm sơn thù lOg, nhạc thung dung 15g.

– Đại tiện ra máu: Hoa hoè, trắc bá diệp, kinh giới tuệ và chỉ xác lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm.

Hoa hoè sống và sao mỗi thứ 15g, chi tử 30g tán bột, uống mỗi lần 6g.

Hoa hoè 60g, địa du, thương truật mỗi thứ 45g, cam thảo 30g, sao thơm sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.

Hoa hoè, quả hoè, hoạt thạch mỗi thứ 15g, sinh địa, hoa kìm ngân, đương quy mỗi thứ 12g, hoàng cầm, hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ lOg, thăng ma, sài hồ, chỉ xác mỗi thứ 6g, cam thảo 3g, sắc uống.

Nếu chảy máu nhiều, thêm kinh giói lOg, địa du, trắc bá diệp sao đen mỗi thứ lg.

Thể trạng hư yếu thêm đảng sâm, hoàng kỳ, hoài sơn mỗi thứ 15g. Thiếu máu nhiều thêm hoàng kỳ 15g, thục địa 12g.

– Tiểu tiện ra máu: Hoa hoè sao, uất kim mỗi thứ 30g, tán bột, uống mỗi lần 6g.

– Rong kinh, băng huyết, khí hư: Hoa hoè lậu năm 30g, bách thảo sương 15g, tán bột, uốhg mỗi lần 9 – 12g vối rượu ấm để chữa băng huyết, rong kinh.

Hoa hoè sao, mẫu lệ nung lượng bằng nhau, tán bột, uống mỗi lần 9g với rượu ấm để chữa bạch đới (khí hư màu trắng).

– Chảy máu mũi: Hoa hoè và ô tặc cốt lượng bằng nhau, nửa sống nửa sao, tán bột, mỗi lần lấy một ít thổi vào lỗ mũi.

– Viêm loét: Hoa hoè, hoa kim ngân mỗi thứ 15g, sắc với 2 bát rượu uống cho ra mồ hôi. Với tổn thương viêm loét về mùa hạ, có thể dùng hoa hoè 60g sắc đặc rồi dùng bông thấm dịch thuốc bôi lên nơi bị bệnh nhiều lần trong ngày.

Lưu ý: Hoa hoè tính hơi lạnh nên những người tỳ vị hư hàn (hay đau bụng do lạnh, thích chườm nóng, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện thường xuyên lỏng nát) không được dùng vị thuốc này, nếu cần dùng thì phải phối hợp với các dược liệu có tính ấm nóng.

Xem thêm thiết kế logo shop quần áo

2. Hoa mào gà

a. Thành phần và tác dụng

Hoa mào gà còn có tên khác là kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa, mồng gà, lão lai thiểu. Hoa mào gà có đủ các chất béo, axit folic, vitamin Bj, B2, B4, B12, c, D, E, K, các axit amin, nguyên tố vi lượng và nhiều loại men thiên nhiên bao gồm cả enzyme nên có tác dụng cầm máu và chữa các chứng viêm loét. Theo Đông y, hoa mào gà vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục (chảy máu mũi), huyết lâm (tiểu buốt và ra máu), băng lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư), di tinh.
b. Bài thuốc phối hơp

– Cao huyết áp: Hoa mào gà 3 – 4 bông, hồng táo 10 quả, sắc uống hàng ngày.

– Thổ huyết: Hoa mào’gà đỏ (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống. Hoặc dùng hoa mào gà trắng tươi 15 – 24g (loại khô dùng 6 – 15g) hầm vói phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giò rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.

– Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30g, trắc bá diệp 30g, cỏ nhọ nồi 30g, sắc uống. Hoặc hoa mào gà tươi 24g, rễ cỏ tranh tươi 30g, sắc uôhg.

– Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc vói rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhầy) dùng hoa màu trắng.

– Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Hoa mào gà và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vo thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên vối nước cơm khi đói. Hoặc dùng hoa mào gà trắng sao 30g, tông lư thán 30g, khương hoạt 30g, tán thành bột uống mỗi lần 6g vối nưốc cơm.

– Tiểu buốít và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15 – 20g vói nước cơm hoặc dùng hoa mào gà 15g sắc uôhg.

– Di tinh: Hoa mào gà trắng 30g, kim ti thảo 15g, kim anh tử 15g, sắc uống.

– Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đưòng đỏ rồi đắp vào nhọt độc.

– Trị lồ loét: Hoa mào gà 3g, ngũ bội tử 3g, một chút băng phiến, tất cả tán bột, trộn với mật lợn rồi bôi lên vùng lở loét.
– Bế kinh: Hoa mào gà tươi 24g hầm với 60g thịt lợn nạc, chia vài lần ăn trong ngày.

– Kinh nguyệt quá nhiều: Hoa mào gà lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 6g khi đói với một chút rượu. Hoặc dùng bài hoa mào gà sao cháy tán bột, uống mỗi lần 6 – 9g vối nưốc ấm.

– Kinh nguyệt không đều: Hoa mào gà đỏ và trắng mỗi loại 9g sắc uống. Hoặc dùng hoa mào gà trắng 15g, long nhãn hoa 12g, ích mẫu thảo 9g, thịt lợn nạc lượng vừa đủ, hầm ăn, nếu có kèm khí hư thì gia thêm vỏ trắng rễ tần bì 9g.

– Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uôhg 9g vào sáng sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15g, bạch truật 9g, bạch linh 9g, hoa mã đề tươi 30g, trứng gà 2 quả, sắc uống.

– Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn lOg, sắc nửa rượu nửa nước uống.

– Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà khô 24g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15g, phòng phong 6g, tông lư thán lOg, sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g.

– Lên mề đay: Hoa mào gà dùng cả cây sắc uống và ngâm rửa, nếu nốt sẩn màu đỏ thì dùng hoa màu đỏ, nếu sắc trắng thì dùng hoa màu trắng.

– Ho ra máu: Hoa mào gà đỏ 15g, lá huyết dụ 20g sao cháy, lá trắc bá 20g sao cháy, cỏ nhọ nồi 20g. sắc uống ngày một thang.

– Tiêu chảy: Hoa mào gà lOg, vỏ dộp cây ổi 8g, vỏ quả lựu lOg. Sắc uống ngày một thang.

– Lỵ lâu ngày: Hoa mào gà 20g, cỏ seo gà 20g, lá mơ lông 20g. Sắc uống ngày một thang.

– Sốt xuất huyết: Hoa mào gà 20g, lá trắc bá sao đèn 20g, hoa hoè sao đen 15g, ké đầu ngựa 15g, lá dâu 20g. Sắc uống ngày một thang.

– Viêm đường tiết niệu (tiểu buốt, tiểu dắt): Hoa mào gà 20g, bồ công anh 20g, mã đề 20g, râu ngô 15g, rau má 20g. sắc uôhg ngày một thang.

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of